Sở hữu chung của vợ chồng

Sở hữu chung của vợ chồng Điều 219 Bộ luật Dân sự 2005 quy định về sở hữu chung của vợ chồng.

 
 
 
 
 
Điều 219. Sở hữu chung của vợ chồng
 
         "1. Sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất.
 
          2. Vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung bằng công sức của mỗi người; có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.
 
         3. Vợ chồng cùng bàn bạc, thoả thuận hoặc uỷ quyền cho nhau chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.
 
         4. Tài sản chung của vợ chồng có thể phân chia theo thoả thuận hoặc theo quyết định của Toà án."
 
1. Sở hữu chung vợ chồng là hình thức sở hữu chung hợp nhất được quy định trong Bộ luật dân sự và trong Luật hôn nhân và gia đình.
 
Điều 17 Luật hôn nhân và gia đình hiện hành quy định tài sản chung của vợ chồng gồm:
 
- Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thùa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
 
- Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thỏa thuận.
 
Để thực hiện tài sản chung của vợ chồng, Luật hôn nhân và gia đình hiện hành quy định: trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong Giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ chồng.
 
2. Đặc điểm của chế độ sở hữu chung của vợ chồng là sự bình đẳng hoàn toàn của vợ chồng đối với tài sản mà vợ chồng có được trong thời kỳ hôn nhân, không phụ thuộc vào việc ai trực tiếp làm ra tài sản đó. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của vợ chồng được thực hiện theo nguyên tắc quy định tại Điều 4 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP.
 
Việc xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung mà pháp luật quy định phải tuân theo hình thức nhất định thì sự thỏa thuận của vợ chồng cũng phải tuân theo hình thức đó. Trong trường hợp vợ hoặc chồng xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung mà không có sự đồng ý của một bên thì bên đó có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu và hậu quả pháp lý được giải quyết theo quy định tại Điều 137 Bộ luật dân sự năm 2005.
 
3. Việc phân chia tài sản chung của vợ chồng sẽ chấm dứt quyền sở hữu chung của vợ chồng. Vợ chồng có thể phân chia tài sản chung khi ly hôn hoặc thỏa thuận phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.
 
Nguồn tham khảo: Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2005, Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp, PGS.TS Hoàng Thế Liên (Chủ biên) 
 
 
 

 
Tòa nhà HSLAWS, Số 183 Trường Chinh, Khương Mai, Thanh Xuân, Hà Nội.
             Điện thoại VP: 04 3724 6666 ; Di động : 090 574 6666    
  
Các từ có liên quan đến bài viết: Sở hữu chung của vợ chồng

Phản hồi khách hàng

VĂN THỊ CHÂM nói: Tôi là Giám Đốc điều hành QTD Đào Dương-Ân Thi-Hưng Yên Tôi muốn nhờ luật sư tư vấn giúp một việc như sau: Có một khách hàng gửi tiền tại quỹ, gồm 3 sổ tiền gửi nhưng đã bị chết.ông ta đang sống với bà vợ thứ 3 và một cô con gái bị bệnh tậtcũng đã ngoài 40 tuổi.vợ cả và vợ hai đều đã chết, các con của các vợ đều đã trưởng thành và có hộ gia đình riêng bản thân ông TRƯỚC KHI CHẾT KHÔNG CÓ GIẤY ỦY QUYỀN HAY DI CHÚC NÀO CHO AI CẢ,chúng tôi thì yêu cầu gia đình họp gồm tất cả các con của (3 vợ) để cử người đại diện ra giao dịch với quỹ, nhưng số tiền này bà vợ không muốn cho tất cả các con biết hết, mà chỉ muốn cho biết một phần, và một phần số tiền chỉ để con riêng của bà đó biết thôi. Vậy tôi phải làm như thế nào mà đúng cả luật, hợp cả tình và cũng thuận cho gia đình họ không bị mâu thuẫn: -
 

Ý kiến của bạn

Họ tên:  
Email:
Nội dung:  
Mã bảo vệ:   U7DOWO
 

Tin đã đăng

Dịch vụ

Biểu mẫu

Hỏi đáp pháp luật

Từ khóa liên quan